Điều trị đau .com
084 589 8686

Giới thiệu

Khớp gối là khớp thường xuyên bị chấn thương nhất trong thể thao do phải liên tục chịu các đè nén cưỡng ép. Tổn thương khớp gối có thể là hậu quả của sự quá tải trong khi đi bộ, khi hoạt động thể thao có sự gấp duỗi dồn dập như bóng chuyền, bóng rổ, hoặc là do tăng giảm tốc độ đột ngột, sự va chạm trực tiếp khi chơi khúc côn cầu, bóng bầu dục, trượt tuyết, bóng đá…

Hiện nay, MRI vẫn là phương pháp hiệu quả nhất để đánh giá các tổn thương khớp gối. Tuy vậy, yêu cầu đặt ra là kỹ thuật chụp MRI khớp gối phải chính xác. Có nhiều quy trình chụp MRI khớp gối đã được nhiều tác giả mô tả, không hoàn toàn thống nhất với nhau, tùy thuộc vào từ lực của máy, tổn thương cần tìm và thói quen của người làm.

Lớp cắt không đúng trục của DCCT
Hình ảnh MRI không thấy rõ DCCT

Nguyên tắc chung

- Việc sử dụng ăngten (coils) thích hợp cho gối là điều bắt buộc

Coils chụp khớp gối là loại ăngten bề mặt, sử dụng cho từng chi. Điều này giúp giảm trường nhìn, giảm sự phân giải không gian và tăng tín hiệu thu được.

- Tư thế bệnh nhân nằm ngửa.

Khớp gối được đặt ở trung tâm của ăngten (coils), tư thế gấp 150 và xoay ngoài nhẹ từ 5-100 (là tư thế tạo sự dễ chịu nhất cho bệnh nhân đồng thời làm căng dây chằng chéo trước (DCCT). Xung quanh gối được chèn những miếng đệm để tránh sự xê dịch trong quá trình chụp.

- Cần chụp ít nhất hai mặt phẳng

Điều này mang lại những thông tin bổ xung nhau giúp tránh được nhiều bẫy do hiệu ứng thể tích khối từng phần, sự chuyển dịch hóa học… Mặt phẳng đứng dọc và đứng ngang thường được chọn trong thăm khám sụn chêm (SC), các dây chằng chéo; còn chọn mặt phẳng ngang và đứng dọc để nghiên cứu khớp đùi bánh chè. Hướng của lát cắt theo mặt phẳng này được định vị trên hai mặt phẳng kia.

Định vị coronal
Định vị axial
Định vị sagital
Kĩ thuật cắt dọc theo trục của dây chằng chéo trước

Kĩ thuật chụp tiêu chuẩn

- Lát cắt đứng ngang (coronal): có hướng song song với bờ sau của hai lồi cầu xương đùi trên mặt phẳng ngang đồng thời vuông góc với đường khe khớp đùi chày trên mặt phẳng đứng dọc.

- Lát cắt đứng dọc (sagital): được đặt vuông góc với đường nối bờ sau của hai lồi cầu xương đùi trên mặt phẳng ngang, đồng thời song song với khe khớp đùi chày trên mặt phẳng đứng ngang.

- Lát cắt ngang (axial): có hướng song song với khe khớp đùi chày trên mặt phẳng đứng dọc và đứng ngang.

- Khảo sát DCCT: nhiều tác giả khuyên cần bổ sung thêm các lát cắt theo trục của DC này. Đó thường là mặt phẳng chếch dọc, tạo góc 70-750 so với khe khớp đùi chày trên mặt phẳng đứng ngang hoặc với đường nối bờ sau của hai lồi cầu xương đùi trên MP ngang. Trong trường hợp còn nghi ngờ chẩn đoán, ta có thể sử dụng mặt phẳng đứng ngang chếch song song với mái liên lồi cầu xương đùi khi gối duỗi.

- Khảo sát DCCS: kĩ thuật chụp thường quy đủ để khảo sát DCCS. Trong trường hợp còn chưa rõ ràng, ta có thể sử dụng những lát cắt đứng dọc, gối gấp 300. Đây là tư thế mà DCCS căng, vì vậy sẽ giúp loại bỏ những ảnh nhiễu do sự gập góc của nó.

Ảnh được tạo ra phải thích hợp với bản chất của tổn thương cần tìm, khả năng của máy và với mức độ cần thiết sao cho không có khoảng thời gian thăm khám quá dài.

Trường khảo sát FOV:

- Trường nhìn nhỏ, phù hợp với kích thước của khớp gối

- Thường khoảng 14-16 cm

Độ dầy lớp cắt

- Do khớp gối có nhiều cấu trúc với mật độ proton rất khác nhau nên thường phải để lớp cắt mỏng 3-5mm

- Để tránh ảnh giả do hiệu ứng thể tích khối từng phần.

- Và khoảng cách giữa các lát (gap) cắt cũng giảm ở mức thấp nhất có thể.

Các chuỗi xung

- Cần sử dụng nhiều chuỗi xung phối hợp nhau.

- T1W cho phép xác định tốt giải phẫu, nhưng không phân biệt được giữa phù nề và dịch khớp với bao gân và DC vì đều có tín hiệu thấp. Trên T2W, hình thái của các cấu trúc giải phẫu kém rõ hơn, nhưng vì phù nề và dịch thì tăng tín hiệu mạnh, tạo ra sự tương phản với các cấu trúc mô bình thường, đặc biệt đối với DCCT.

- Chuỗi xung xóa mỡ (STIR hay T1W FatSat, T2W FatSat) giúp phân biệt tốt giữa mỡ với dịch nên rất hiệu quả trong phát hiện đụng dập xương và trong xác định lớp mỡ ở đáy của các SC.

- Chuỗi xung được ưa chuộng nhất cho thăm khám các dây chằng chéo khớp gối là T1W SE, T2W SE hoặc T2 PD. Những chuỗi xung GRE hoặc 3D (với khả năng tái tạo đa mặt phẳng), cũng như chuỗi xoá mỡ dường như không làm thay đổi chất lượng hình ảnh dây chằng chéo.

Tài liệu tham khảo:

Bs. Huỳnh Lê Anh Vũ, Luận văn Thạc sỹ CĐHA, ĐHY Hà Nội, 2005.  

Ngôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Được tài trợ

Bài viết mới

Viêm Cột Sống Dính Khớp

13-12-2018 Hits:54 Hướng Dẫn Chẩn Đoán Và Điều Trị Các Bệnh Cơ Xương Khớp BS Mai Trung Dũng

2. NGUYÊN NHÂN Nguyên nhân của bệnh chưa được biết rõ hoàn toàn. Có hai đặc điểm chính là hiện tượng viêm và xơ hóa, calci hóa các dây chằng, bao khớp (đặc biệt tại vị trí cột sống), các điểm bám gân. Kháng nguyên hoà hợp mô HLA-B27: gặp trong 90% trường hợp, ngoài ra còn có thể có một số yếu tố gen khác và tác nhân nhiễm khuẩn. Yếu tố gia đình chiếm tỷ lệ 10%. Phản ứng miễn dịch: Sự kết hợp giữa yếu tố gen và tác nhân nhiễm khuẩn ban đầu ở các đối tượng này gây...

Read more

Các chuyên đề cột sống

Viết bình luận