Qúa tải và cơ chế chấn thương trong thể thao

Tải đè nặng lên cơ thể của vận động viên có thể định nghĩa như toàn bộ các lực và momen tác động lên cơ thể đó. Tải đè nặng trên cấu trúc đặc biệt của cơ thể vận động viên có thể được định nghĩa như toàn bộ lực và momen tác động lên cấu trúc đặc biệt đó (Nigg và Bobbert, 1990). Tải tác động lên các cấu trúc đặc biệt của cơ thể vận động viên trong thời gian hoạt động thể thao là một sự kích thích khả dĩ để duy trì và/hoặc tăng sức mạnh của các vật liệu sinh học như dây chằng, gân, cơ, xương và sụn khớp. Tuy nhiên, nếu quá, tải có thể là lý do để hủy hoại ít hay nhiều đối với các cấu trúc giải phẫu. Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự quá tải trong nhiều hoạt động thể thao. Theo báo cáo, từ 27 đến 70% vận động viên chạy hay đi bộ bị tổn thương trong giai đoạn 1 năm (Clement và CS, 1981; Brody, 1982; Jacobs và Berson, 1986; Warren và Jones, 1987; Bahlsen, 1988; Marti và CS, 1988) và từ 21-52% vận động viên tenis bị tổn thương trong mỗi mùa (Biener và Caluori, 1977; Nigg và Denoth, 1980). Thêm vào đó, các tổn thương có liên quan tới các hoạt động thể dục nhịp điệu cũng đã được báo cáo ở 76% các giáo viên và 43% người tham gia (Francis và CS, 1985; Richie và CS, 1985). Những con số này cho thấy có vấn đề và các bước đi cần có làm giảm tần suất những tổn thương trong thể thao. 

Có nhiều vấn đề đáng chú ý trong việc phân tích những tổn thương trong thể thao trong đó có cấu trúc cơ thể bị hủy hoại (James và CS, 1978; Clement và CS, 1981), các kiểu hủy hoại đối với cấu trúc cơ thể (Bienet và Caluori, 1977), ngoại lực tác động lên cơ thể vận động viên trong thời gian hoạt động có thể dẫn đến tổn thương (Cavanagh và Lafortune, 1980; Frederick và CS, 1981), các nội lực tác động hoặc strees tác động cấu trúc giải phẫu trước và có thể trong thời gian tổn thương (Zernicke và CS, 1977; Zernicke, 1981; Renstrom và CS, 1988; Morlock và Nigg, 1991), các yếu tố ảnh hưởng tới nội lực hay ngoại lực hay ngoại lực và stress (Clarke và CS, 1983; Snel và CS, 1983; Nigg và CS, 1987; Stacoff và CS, 1988), tính chất của vật liệu của cơ cấu hủy hoại và các giới hạn nguy hiểm (Yamada, 1970; Noyes và Grood, 1976; Shrive và CS, 1988; Stuessi và Faeh, 1988), các yếu tố ảnh hưởng tới tính chất của vật liệu và giới hạn nguy hiểm (Tipton và CS, 1970, Amiel và CS, 1982; Woo và CS, 1984) và các vấn đề khác. Tuy nhiên, một trong những mục tiêu nghiên cứu liên quan đến tổn thương trong thể thao là phải làm sao giảm được tần suất những tổn thương. 

Mục đích của chương này là liệt kê các yếu tố ảnh hưởng đến tần suất xảy ra tổn thương trong thể thao và bàn luận về chiến lược có thể làm giảm các lực tác động lên cơ thể vận động viên trong quá trình hoạt động thể thao. Sau đó tập trung vào bàn luận về các yếu tố cơ học có trách nhiệm về những tổn thương trong thể thao.

Các yếu yếu có thể

Một cấu trúc giải phẫu bị tổn thương trong quá trình hoạt động thân thể liệu có phụ thuộc hay không vào tính chất vật liệu của cấu trúc đó (độ bền chắc của vật liệu sinh học) và lực tác động lên cấu trúc đó (Hình 9.1). Để có thể triển khai chiến lược làm giảm xuất hiện tổn thương trong thể thao, điều quan trọng là phải hiểu một mặt tính chất vật liệu và mặt khác các lực tác dụng chịu ảnh hưởng như thế nào. 

Qúa tải và cơ chế chấn thương trong thể thao

Hình 9.1. Các yếu tố chọn lựa là nguyên nhân gây ra tổn thương trong thể thao

Sức bền của các vật liệu sinh học

Những phần sau đây tóm tắt kiến thức cơ bản thích hợp để hiểu tính chất vật liệu của cấu trúc cơ thể có thể bị ảnh hưởng ra sao. Tính chất cơ học của vật liệu như thép hay gỗ được xác định theo những quy trình được xác định rất rõ. Những phác đồ tương tự được tuân theo khi xác định tính chất cơ học của vật liệu sinh học. Tính chất cơ học của vật liệu vô cơ không biến đổi chừng nào mà sức tải tác động vào vẫn duy trì trong giới hạn đàn hồi của vật liệu ấy. Tuy nhiên, tính chất cơ học của mô tế bào sống (vật liệu sinh học) thay đổi như một chức năng của tải tác dụng. Mỗi tác dụng của tải đều là nguyên nhân làm cho vật liệu sinh học tăng hay giảm sức bền cơ học của nó. Kết quả là các tính chất cơ học của vật liệu sinh học phụ thuộc vào bài tập, sự bất động, sự căng thẳng, dinh dưỡng, tuổi tác và các yếu tố khác (Hình 9.2). Những tác dụng chọn lọc của bài tập đối với xương sụn, dây chằng, gân và cơ bắp được tóm tắt trong đoạn tiếp đây.

Động tác

Giầy mang

v(m/s)

Fmax/N

Fmax/BW

Tác giả

Năm

 

Đi bộ

 

Giầy đế loe

1,3

385*

0,55

Cavanagh

1981

Ủng bộ đội

1,3

259*

0,37

Cavanagh

1981

Giầy đi phố

1,3

189*

0,27

Cavanagh

1981

 

 

 

 

 

 

Chạy (gót)

 

 

 

 

 

 

Giầy

4,5

1540*

2,2

Cavanagh

1980

Giầy gót cứng

4,0

2000

2,9*

Nigg

1980

Giầy gót mềm

4,0

1100

1,6*

Nigg

1980

Giầy

3,4

1365

2,0

Frederick

1982

Giầy

3,8

1590

2,3

Frederick

1982

Giầy

4,5

1963

2,9

Frederick

1982

Giầy

3,0

1345

1,9*

Nigg

1987

Giầy

4,0

1521

2,2

Nigg

1987

Giầy

5,0

1799

2,6*

Nigg

1987

Giầy

6,0

2070

3,0*

Nigg

1987

Chạy (ngón)  

Giầy

4,0

300

0,4*

Denoth

1980

Đầu nhọn

2,0

1000

1,4*

Nigg

1981

 

 

 

Lấy đà để nhảy

 

 

 

Đầu nhọn

4,0

2300

3,3*

Nigg

1981

Đầu nhọn

6,0

3700

5,3*

Nigg

1981

Đầu nhọn

8,0

5700

8,1*

Nigg

1981

Giầy

2,0

1400

2,0*

Nigg

1981

Giầy

4,0

2000

2,0*

Nigg

1981

Giầy

7,0

2900

4,1*

Nigg

1981

Bảng 9.1. Kết quả thực nghiệm được chọn lọc đối với đỉnh lực tác động bên ngoài thẳng đứng (F) trong đi bộ và chạy. Các số sao (*) được tính với khối lượng trung bình của cơ thể 70kg. 

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết