Phong bế rễ thần kinh tủy sống ở khu vực lỗ ghép

1. Chỉ định.

Phong bế rễ thần kinh tủy sống được dùng để chẩn đoán và điều trị đau xuất hiện trong vùng phân bố da của nó.

2. Đặc điểm giải phẫu.

Lỗ ghép được giới hạn bởi phía trước là một phần của hai thân đốt sống kế cận và đĩa đệm, phía trên là khuyết dưới của đốt sống trên, phía dưới là khuyết trên của đốt sống dưới,  và phía sau là diện khớp của các khớp nhỏ đốt sống. Nhìn chung các lỗ ghép đều nằm ngang mức với đĩa đệm. Lỗ ghép cho các dây thần kinh sống đi từ ống sống ra ngoài, bình thường đường kính của lỗ ghép to gấp 5-6 lần đường kính của đoạn dây thần kinh đi qua nó. Các tư thế ưỡn và nghiêng về bên làm giảm đường kính của lỗ. Khi cột sống bị thoái hóa hay đĩa đệm thoát vị sang bên sẽ chèn ép dây thần kinh sống gây đau. Riêng lỗ ghép thắt lưng – cùng là đặc biệt nhỏ do tư thế của khe khớp đốt sống ở đây lại nằm ở mặt phẳng đứng ngang chứ không ở mặt phẳng đứng dọc như ở đoạn L1-L4, do đó những biến đổi ở diện khớp và tư thế của khớp đốt sống dễ gây hẹp lỗ ghép này.

Phong bế rễ thần kinh tủy sống ở khu vực lỗ ghép

Hình 3.6. Phong bế lỗ ghép

Trong kỹ thuật phong bế rễ thần kinh, ngành ngang đốt sống được dùng làm mốc để đánh dấu độ sâu của rễ thần kinh. Nắm chắc mối quan hệ của mỏm ngang với mỏm gai là rất cần thiết để xác định vị trí chính xác của rễ thần kinh cần tìm.

3. Kỹ thuật.

– Bệnh nhân ở tư thế nằm sấp. Từ đỉnh mỏm gai đốt sống đo ngang ra 3-5cm là điểm xuyên kim, tương ứng với đỉnh mỏm ngang đốt sống.

– Chuẩn bị bệnh nhân bằng kiểu vô trùng tiêu chuẩn, dùng kim dài 10cm 22-gauge xuyên vuông góc với da đến khi chạm vào mỏm ngang, ghi nhận độ sâu của kim tại vị trí này. Sau đó rút kim ra đến ngang mức da, chếch mũi kim xuống dưới 200 rồi xuyên lại tới độ sâu lúc trước, lúc này đầu mũi kim sẽ đi qua phía dưới mỏm ngang đến khu vực lỗ ghép (Hình 3.6).

– Hút bơm tiêm để khẳng định đầu mũi kim không nằm trong mạch máu, rồi bơm 3-5ml thuốc tê cục bộ để phong bế rễ sau thần kinh.

4. Biến chứng.

– Biến chứng thường gặp xuất hiện từ tiêm thuốc tê vào vùng lân cận đến khoảng bên cột sống như khoang ngoài màng cứng, hoặc khoang dưới nhện.

– Đâm vào các tạng và mạch máu sau màng bụng.

– Chảy máu.

Có thể bạn quan tâm

Bài viết của: Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm
Phòng khám Thoát vị Đĩa đệm | 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội | Phụ trách chuyên môn: BS Mai Trung Dũng | Bác sĩ chuyên khoa cấp II (Đại học y Hà hội - 2015) |Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 |Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
1448 bài viết