Viện điện tử

Viêm phổi hít trong gây mê – BV108


Viêm phổi hít trong gây mê

    Viêm phổi hít là tình trạng phù nề hoặc nhiễm trùng phổi phế quản do hít phải các chất gây tổn thương phổi như thức ăn, dịch dạ dày, chất nôn…vào phổi hoặc đường hô hấp. Viêm phổi hít là một trong các nguyên nhân quan trọng gây nên các hình thái bệnh nặng và tử vong khi chăm sóc người bệnh

    Viêm phổi hít trong gây mê là tình trạng viêm phổi cấp xảy ra trong quá trình khởi mê, duy trì mê hoặc thoát mê.

    Cơ chế bệnh sinh:

    Viêm phổi hít trong gây mê là tổn thương phổi do hít phải dịch vị và các thành phần khác trong dạ dày. Tổn thương phổi càng nặng khi lượng hít phải càng nhiều và pH dạ dày càng thấp. Đa số các tác giả cho rằng pH< 2,5 và lượng hít phải 0,3ml (tương đương 25-30ml ở người lớn) là có thể gây tổn thương phổi.Đầu tiên dưới sự tác động trực tiếp của acid phá hủy thành phần phospholipid và apoprotein của lớp surfactant trên bề mặt phế nang (surfactant có tác dụng giảm sức căng bề mặt phế nang, không gây hiện tượng xẹp phế nang). Lớp surfactant hư hại, sự co thắt khí phế quản sẽ làm giảm PaO2, tăng shunt phổi.Acid cũng phá hủy thành phế nang- mao mạch, biểu mô phế nang phù nề và tiết dịch gồm albulmin, fibrin, mảnh vụn tế bào và hồng cầu… Mảnh vụ tế bào và phế quản tổn thương gây tắc nghẽn phế quản. Tắc nghẽn phế quản và phù nề phế nang làm giảm thể tích phổi , giảm sức đàn hồi phổi (compliance) làm thiếu oxy máu, tăng kháng lực mạch máu phổi, tăng nhịp thở.Sau khi bị những tổn thương trực tiếp do acid lên đường thở, một loạt các phản ứng viêm xảy ra do phóng thích các cytokines, interleukin, yếu tố hoại tử mô alpha, hoạt hóa các tế bào viêm (neutrophile), giải phóng các chất oxi hóa, chất tiêu protein…Các chất này dẫn đến tổn thương viêm phổi cấp tính. Nguyên nhân
    + Nguyên nhân viêm phổi hít khi khởi mê:
    Bệnh nhân mổ cấp cứu có dạ dày đầy không có thời gian chuẩn bị
    Bệnh nhân sản phụ
    Bệnh nhân chấn thương sọ não, bệnh nhân có hẹp thực quản, hẹp môn vị thức ăn ứ đọng ở dạ dày thực quản
    +Nguyên nhân viêm phổi hít khi rút ống nội khí quản:
    Nguyên nhân do còn tác dụng của thuốc gây mê, rối loạn nuốt do thay đổi tính nhạy cảm đường hô hấp trên, rối loạn chức năng cơ phế quản. Rối loạn nuốt thấy 30% bệnh nhân sau khi rút ống nội khí quản.

    Triệu chứng lâm sàng:
    Nếu viêm phổi hít xảy ra trong quá trình khởi mê dễ dàng phát hiện khi thấy dịch dạ dày có thể lẫn thức ăn trào lên ở miệng, hoặc nhìn thấy dịch, thức ăn trào vào đường hô hấp.

    Nếu xảy ra khi thoát mê rút ống nội khí quản thường biểu hiện: Khó thở cấp, thở khò khè, ho, tím tái, thở nhanh, bão hòa oxy máu thấp, tụt huyết áp, phù phổi.

    Tuy nhiên nhiều bệnh nhân lâm sàng không điển hình chỉ có ho, độ bão hòa oxy máu thấp và chỉ thấy được trên phim X-quang tim phổi.

    X-quang tim phổi: Hình ảnh thâm nhiễm phế nang, trường hợp nặng thâm nhiễm lan tỏa toàn bộ hai phế nang – hình ảnh phổi trắng, có thể gặp hình ảnh xẹp phổi.

    Khí máu động mạch: PaO2 giảm, PaCO2 tăng, có thể có toan hóa, tỉ lệ PaO2: FiO2< 300.

    X-quang bệnh nhân bị viêm phổi hít

    Điều trị:
    Điều trị chính bao gồm: Soi, rửa phế quản, điều trị tình trạng thiếu oxy máu, chống nhiễm khuẩn, và corticoid.
    + Soi rửa phế quản: Nhanh chóng hút hầu họng, đặt ống nội khí quản và tiến hành soi rửa phế quản nếu có điều kiện. Soi rửa phế quản thường hữu ích với những thức ăn lớn, và làm giảm pH dịch vị. Dung dịch rửa thường dùng nước muối 0,9% và bicarbonate. Đảm bảo cung cấp đủ oxy trong quá trình soi rửa tránh làm gia tăng tình trạng thiếu oxy.
    + Điều trị thiếu oxy máu: Tùy mức độ thiếu oxy có thể cho bệnh nhân thở oxy, hoặc thở CPAP trên những bệnh nhân thở tự nhiên, thở PEEP trên bệnh nhân thở máy nhằm phục hồi thể tích cặn chức năng, giảm shunt trong phổi.
    + Chống nhiễm khuẩn: Các tác giả khuyên không nên dùng kháng sinh dự phòng. Nên dùng kháng sinh ở bệnh nhân sặc phổi có tắc ruột non, có vi khuẩn trong dạ dày, bệnh nhân sặc phổi mà không cải thiện trong vòng 48h và bệnh nhân có biểu hiện viêm phổi (Aspiration Pneumonia). Nên dùng các kháng sinh phổ rộng, tốt nhất nên kết quả cấy bệnh phẩm đường hô hấp dưới.
    + Điều trị corticoid: Mặc dầu trong những thập niên gần đây nhiều tác giả dùng corticoid nhưng chưa rõ bằng chứng chứng minh hiệu quả corticoid trong điều trị viêm phổi hít.
    + Viêm phổi hít trong những trường hợp nặng (hội chứng Mendelson) có thể gây suy hô hấp và tiến triển thành ARDS (adult respiration distress syndrome). Điều trị nhằm thông khí bảo vệ phổi, kiểm soát lượng dịch và áp dụng các phác đồ điều trị suy hô hấp cấp.

    Dự phòng
    + Bệnh nhân mổ phiên nên chuẩn bị bệnh nhân đầy đủ, hướng dẫn bệnh nhân nhịn ăn uống: nên nhịn ăn uống hoàn toàn 6-8 giờ trước mổ.
    + Sử dụng các thuốc làm giảm pH dạ dày và giảm tiết dạ dày:
    -Các thuốc kháng acid: Magnesium trisilicat hiện nay ít dùng, Sodium citrate có tác dụng giảm pH dạ dày nhưng không có tác dụng giảm thể tích dạ dày.
    -Các thuốc ức chế thụ cảm thể H2 (Cimetidin), thuốc ức chế bơm proton (Omeprazole, Ranitidin…) có tác dụng giảm pH và giảm thể tích dạ dày. Thuốc có thể dùng đường uống hoặc đường tĩnh mạch.
    -Metoclopramide đồng vận của cholinergic ngoại vi và kháng thụ thể dopamine trung ương. Thuốc có tác dụng nhanh (15 phút) làm giảm thể tích dạ dày nên thường được dùng trên phụ nữ có thai.
    + Nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao cần đặt sonde dạ dày hút hết dịch trước, tiến hành khởi mê nhanh, áp dụng nghiệm pháp sellick khi khởi mê.
    + Để tránh viêm phổi hít khi thoát mê cần rút ống nội khí quản khi có đầy đủ các tiêu chuẩn.

    BS. Nguyễn Thị Chung
    Khoa Gây mê hồi sức – Bệnh viện TƯQĐ 108

    Nguồn Benhvien108.vn

    -5%
    New
    10.990.000
    -11%
    New
    2.400.000
    -8%
    New
    3.400.000
    -6%
    New
    4.900.0006.380.000

    (Lưu ý: Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người !
    Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !)

    Có thể bạn quan tâm

    DMCA.com Protection Status